Kinh sách

MẬT TÔNG CĂN BẢN

T.T. Thích Minh Trí

Sau một thời gian dài tạm dừng giảng vì Covid và nghỉ Tết Nguyên đán, hôm nay chúng ta mới lại có dịp gặp gỡ để chia sẻ Phật pháp. Thời gian vừa qua cũng là dịp để mỗi người chúng ta soi rọi lại chính mình, với người tu hành thì khó khăn hay thuận lợi đều là công án để quán chiếu. Trong bài Pháp hôm nay tôi sẽ chia sẻ tới quý Phật tử về chủ đề “Mật tông căn bản”. Nói tới căn bản, có nghĩa là điều cốt lõi, cơ bản như cây cần phải có gốc rễ, cây mà không có gốc rễ thì cây không thể đâm chồi nảy lộc, ra cành sinh lá để trưởng thành. Trong những điều căn bản đó, niềm tin là một yếu tô’ quan trọng, cho dù quý vị làm bất kể việc gì? Hoặc tu theo pháp môn nào chăng nữa đều không thể thiếu niềm tin, nhưng niềm tin mà không được kiến tạo bởi chính tín, tức là từ sự hiểu biết cơ bản của quý vị, thì công việc khó thành công, tu hành khó đạt được giác ngộ, vì giữa tà và chính, giữa phải và trái, giữa đúng và sai thực sự vô cùng mỏng manh. Bàn về Mật tông căn bản, trước tiên được đề cập tới thế nào gọi là Mật tông:

1. MẬT TÔNG hay còn gọi là Chân ngôn tông, bí Mật tông, tiếng Phạn là “Mantra”, nghĩa của nó là những lời nói chân thật, chẳng sai chẳng khác với giáo pháp, tất cả âm thanh văn tự đều là “chân như thực tướng” là “Pháp nhĩ thường hằng” pháp môn này lưu xuất từ kim khẩu của đức Đại Nhật (Tỳ Lô Giá Na) do đó, một chữ bao hàm vô lượng nghĩa lý, một lời thôi mà nhiếp trì vô biên công đức, nên còn được gọi là tạng (Đà La Ni). Chân ngôn này là do Pháp thân của Phật tức là Tỳ Lô Giá Na ở cung Kim

Cương pháp giới, thuộc cõi Ma Hê Thủ La thiên nói ra, cũng giống như ứng thân của Phật Thích Ca Mâu Ni Như Lai. Khi mối thành đạo bảy ngày đầu trong khi đang thụ pháp lạc “Như Lai Tính Hải quả phận”, vì ngài Kim Cương Tát Đỏa và các Bồ Tát mà nói ra chân ngôn, đây là nguồn gốc của tông Chân ngôn vậy.

  • Xét về “tông” thì Mật tông trong mười tông phái được thành lập sau khi đức Phật nhập niết bàn, vào khoảng thời gian từ thế kỷ thứ sáu đến đầu thế kỷ thứ mười thì hoàn thành, lúc đầu có 14 tông phái, nhưng sau có những tông hợp nhất lại còn 10 tông phái đó là: Câu Xá tông, Thành Thật tông, Tam Luận tông, Pháp Tướng tông, Thiên Thai tông, Hoa Nghiêm tông, Luật tông, Thiền tông, Tịnh Độ tông và Mật tông.
  • Xét về giáo: theo các nhà nghiên cứu phân làm hai đó là Hiển giáo và Mật giáo. 9 tông trước (cả Tiểu thừa và Đại thừa) thuộc về hiển giáo. “Hiển” là rõ ràng, có thể dùng ngôn ngữ văn tự trình bày diễn đạt được. Hiển giáo là từ ứng hóa thân của đức Phật thuyết Pháp, còn Mật giao là do Pháp thân của Phật thuyết.
  • Gọi là Mật thừa: Hiển giáo phân Giáo lý làm ba thừa đó là: Thanh Văn thừa, Bồ Tát thừa và Phật thừa. Mật thừa chính là Phật thừa vậy.
  • Sao gọi là bí mật?

A. Đây là ngôn ngữ của chư Phật, thuộc đốn ngộ viênlý, chỉ hàng đại căn cơ mới có thể tiếp thọ được giáo Pháp này.
B. Chúng sinh vốn dĩ đều có Phật tính, Như Lai hay Bí Mật tạng, nhưng trong thập giới đều y vào ngôn thuyết để diễn giảng giáo Pháp này, vì thế xã hội đã tự tạo ra ngăn cách giữa tự mình và Phật. Nên không thấy không biết.
C. Ngôn thuyết ẩn tàng bí mật nghĩa. Ngôn ngữ bí mật, còn có nghĩa khác là sâu sắc, nếu y vào văn cú mà giải nghĩa, sẽ làm mất dụng ý của Phật vậy.
D. Nghĩa của pháp thể bí mật, với Mật giáo nếu mà xa lìa sự gia trì của Như Lai thì ngay cả Thập Địa Bồ Tát cũng chẳng thể thấy, nghe được, nữa là hạng phàm phu. Như hiển giáo thì Nhân phận có thể nói ra được (tức giáo nghĩa), nhưng quả Phận (tức sự giác ngộ) lại không thể nói ra được (quả phận bất khả thuyết). Đồng thời trong “yếu pháp Mật tông” của Thích Thông Đức soạn có trích trong kinh Đại Nhật. Như trong kinh Đại Nhật (quyển 1) nói: “tướng chân ngôn đây, ngoài chư Phật không ai nói được, cũng không dạy người khác nói, lại cũng không tùy hỷ, vì sao? Vì các Pháp (Pháp nhĩ như thị). Chư Như Lai xuất hiện hoặc chư Như Lai không xuất hiện thì các Pháp cũng thường trụ (Pháp nhĩ như thị). Chư Phật có nói chân ngôn cũng (Pháp nhĩ như thị)”.

Nói một cách khác, chân ngôn tức lời nói chân thật là chân lý, mà chân lý vốn siêu việt thời gian và không gian, nó là “như thị”. Không do ai sáng tạo ra cả. Đức Phật trải qua quá trình tu luyện mà giác ngộ chân lý này, chân lý là quy luật vận hành của nhân sinh quan, vũ trụ quan.

Ngoài ra, Thích Thông Đức (trang 161) cũng đề cập tối Hiển giáo khen ngợi lời thuyết pháp của chư Phật và Bồ Tát, cũng được gọi là chân ngôn, có 5 loại chân ngôn.

+ Do Như Lai nói.

+ Do Bồ Tát và Kim Cương nói.

+ Do Nhị Thừa nói.

+ Do Chư Thiên nói.

+ Do Địa Chư Thiên nói (gồm Rồng, A Tu La, Kim Xí Điểu…).

Ở đây khác nhau về ý nghĩa nông sâu mà thôi (phần sớ của Kinh Đại Nhật).
Đặc biệt trong kinh Đại Nhật còn nói: “Như thế nào gọi là giáo Pháp Chân ngôn? Đây chính là chữ A, vì tất cả các Pháp vốh bất sinh vậy”.
Vì thế, tuy rằng giáo pháp của Chân ngôn rất rộng lớn cũng không ra khỏi một chữ A, trở về chữ A môn. Chữ A có đầy đủ 3 nghĩa có là không, hữu và bất sinh.
Trong phẩm “Phổ Thông Chân Ngôn Tạng” của kinh Đại Nhật nói: “Lấy một chữ A Chân ngôn Đại Nhật, toàn bộ nghĩa lý đều ở đây vậy.

2. TỨ CHỦNG PHÁP THÂN

Với Hiển giáo thì đức Phật có ba thân đó là: ứng thân, Hóa thân và Pháp thân. Nhưng Mật giáo, đức Phật có bốn chủng Pháp thân đó là: Tự tính thân, Thọ dụng thân, Biến hóa thân và Đẳng lưu thân.

a. Sao gọi là Tự tính thân?

Tự tính thân gọi đầy đủ là Tự tính pháp thân, là tự tính của chân như pháp giối, thể của nó biến mất thiết sứ, pháp nhĩ viên mãn, đầy đủ diệu đức của tứ mạn tam mật, thường hằng tuyên thuyết cú pháp chân ngôn, nên gọi là Lý pháp thân (thuộc về thai tạng giới), Trí pháp thân (thuộc về kim cương giới). Gọi là Lý pháp thân vì y vào Lý như như mà thành. Trí pháp thân là y vào trí như như mà thành

b. Thọ dụng thân cũng có hai loại là:

  • Tự thọ dụng thân và Tha thọ dụng thân. Gọi là tự thọ dụng vì Trí thân tự thọ dụng Pháp lạc (thân này là của đức Phật Thích Ca Mâu Ni ngay sau khi Đức Phật thành đạo bảy ngày đầu).
  • Tha thọ dụng thân là hàng Bồ Tát từ Trụ địa tâm trở lên hiện thân thuyết Pháp, sở hiện vô lượng hào quang và tướng hảo vô biên.

c. Biến hóa thân: cũng giông như ứng hóa thân vậy, giông như đức Phật Thích Ca Mâu Ni và Đức Phật A Di Đà.

d. Đẳng Lưu Thân: là lấy tâm thệ nguyện Đại bi mà ứng đốì với căn cơ chúng sinh trong cửu giới, hiện ra thân giốhg như từng loại chúng sinh để giáo hóa, thí thiết hóa đạo mà lợi tha.


Trên thực tế Tâm thân hay Tứ thân Phật là do cách trình bày rộng hay hẹp, nông hay sâu mà thôi.

3. ĐẠI NHẬT VÀ THÍCH CA, HAI ĐỨC PHẬT CÙNG MỘT THÊ

Trong “Trụ tâm phẩm” của kinh Đại Nhật, ngài Kim Cương Thủ Bồ Tát đưa ra chín câu hỏi, hay trong “Bách tự phẩm nghĩa thích” nói: “Pháp tự tại Mâu Ni tức là tên khác của Tỳ Lô Giá Na”. Hay trong kinh Phổ hiền cũng nói: “Thích Ca Mâu Ni, danh Tỳ Lô Giá Na, biến nhất thiết sứ, danh Thường Tịnh Quang” Ma ha Tỳ Lô Giá Na là dịch âm từ tiếng Phạn (Maha Vairocana) dịch nghĩa là Đại Nhật, nên ai mê thì cho rằng có hai đức Phật. Trong quyển 3 của “Kim cương đỉnh kinh số” có nói: “Trong kinh Pháp Hoa cửu viễn thành Phật, đức Phật mà kiĩih này nói tới cũng chính là Phật Tỳ Lô Giá Na, không thể giải thích khác được”, vì thế Tỳ Lô Giá Na và Thích Ca Mâu Ni tên tuy khác nhưng kỳ thực là biểu hiện của nội chứng ngoại dụng vậy.


Như vậy, giao pháp Chân ngôn tông là do Pháp thân của đức Tỳ Lô Giá Na ở cung Kim Cương pháp giới, thuộc cõi Ma Hê Thủ La thiên nói ra. Còn ở cõi Sa Bà này là do đức Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết giảng về Chân ngôn cho ngài Kim Cương Tát Đỏa và chư Bồ Tát khi Ngài đang tự thụ Pháp lạc trong bảy ngày đầu mới thành đạo.
Với hiển giáo, Phật có ba thân là: ứng thân, Hóa thân và Pháp thân, giáo pháp mà đức Phật thuyết ra là từ Ưng thân và Hóa thân, còn Pháp thân thì không thể thuyết pháp.
Nhưng với Mật giáo thì Pháp thân Phật là thuyết pháp được, do đó chú trọng nơi Pháp thân tức Phật Tỳ Lô Giá Na.

Tỳ Lô Giá Na gọi cho đủ là Ma ha Tỳ Lô Giá Na. Ma ha ý nghĩa là “Đại” còn Tỳ Lô Giá Na nghĩa là “Nhật” thường gọi là “Đại Nhật”.

Tỳ Lô Giá Na còn có ý nghĩa là: Quang minh biến chiếu nên dịch là: Đại Biến Chiếu Như Lai, Tôi Cao Hiển Quảng Nhãn Tạng Như Lai, mật hiệu gọi là Biến Chiếu Kim Cương. Như trong đại sớ nói: Tỳ Lô Giá Na là tên khác của Nhật (tức là mặt trời), nó có 3 nghĩa sau:

  • Ánh sáng mặt trời trừ đi sự tốĩ tăm u ám, trí tuệ của Như Lai như ánh sáng của mặt tròi, ánh sáng quang minh chiếu rọi tới khắp mọi nơi, không có sự khác biệt giữa trong ngoài, ngày hay đêm.
  • Thành tựu tất cả sự nghiệp, ánh sáng của Như Lai biến chiếu khắp pháp giới, khiến khai mở tất cả những thiện căn của vô lượng chúng sinh, cho đến tất cả những sự nghiệp thù thắng ở trong thế gian và xuất thế gian, không một pháp nào không từ đây mà có thể thành tựu
  • Ánh sáng vô sinh diệt, đây chính là ánh sáng hào quang nơi tâm Phật vậy. Tuy rằng ngay trong vô vi phiền não lý luận che chưống mà ánh sáng hào quang không hề giảm. Cứu kính thực tưống tam muộn viên minh hiển lộ ánh sáng hào quang cũng chẳng táng; từ những nhân duyên này mà mặt tròi của thế gian không thể so sánh, ở đây chỉ mượn ánh sáng mặt trời để làm ví dụ mà thôi.

Như trong “Nhân vương hộ quốc niệm tụng nghi quỹ” có nói: “Tỳ Lô Giá Na gọi là biến chiếu, cũng gọi là Đại Nhật. Như mặt trời của thế gian chỉ chiếu sáng được một bên, mà bên kia không thể soi chiếu, chiếu lúc ban ngày mà đêm không thể chiếu, chỉ chiếu được cho một thế giởi (quả đất – cõi sa bà) không thể chiếu cho các thế giớikhác nên chỉ có tên là nhật (mặt trời). Do đó không được gọi là đại nhật. Còn Tỳ Lô Giá Na có tên là Đại Nhật vì, sắc thân và pháp thân phổ biến pháp giới, tất cả mười phương thế giới đều được soi chiếu.

4. NHỮNG BỘ KINH ĐIÊN QUAN TRỌNG CỦA MẬT TÔNG

Tất cả tông phái, đề phải y cứ vào những bộ kinh, luận cơ bản để lập phái khai tông. Với Mật tông y cứ vào ba bộ kinh quan trọng đó là:

Kinh Đại Tỳ Lô Giá Na Thành Phật Thần Biến Gia Trì, gọi tắt là kinh Đại Nhật (Thiện Vô úy dịch).

Kinh Kim Cương Đỉnh Nhất Thiết Như Lai Chân Thực Nhiếp Đại Thừa Hiện Chứng Đại Giáo Vương (Bất Không dịch) gọi tắt là kinh Kim Cương Đỉnh.

Kinh Tô Tất Địa Yết La Ra (Thiện Vô Úy dịch) gọi tắt là kinh Tô Tất Địa.

Bộ luận căn bản là Bồ Đề Tâm Luận, gọi là Tam Kinh Nhất Luận, ngoài ra còn thêm kinh Gia Đỉnh Luân Vương và kinh Du Ký gọi là Mật giáo ngũ bộ bí điển. Trên thực tế, Mật giáo còn sử dụng rất nhiều những bộ kinh luận sớ khác. Như bộ Bát Nhã, Trung Quán Luận của ngài Long Thọ .v.v… có thể nói kinh, Luận, Só mà Mật tông y cứ tu học rất nhiều, nên lập riêng một tạng (tạng mật) cộng với 3 tạng của hiển giáo nữa thành bôn tạng gồm: Kinh, Luật, Luận, Đà La Ni Tạng.

5. TRUYỀN THỪA CỦA MẬT TÔNG TRONG GIAI ĐOẠN ĐAU

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni khi mới thành đạo trong bảy ngày đầu lúc đang tự thụ Pháp lạc, vì ngài Kim Cương Tát Đỏa và các Bồ Tát mà nói ra Chân ngôn. Ngài Kim Cương Tát Đỏa sau khi thụ pháp bèn kết tập thành kinh Đại Nhật và kinh Kim Cương Đỉnh, mỗi bộ kinh có mười vạn bài tụng rồi để vào tháp sắt ở Nam Thiên Trúc. Sau Phật nhập diệt khoảng hơn 600 năm, Bồ Tát Long Thọ đã tới Nam Thiên Trúc đỉnh lễ ngài Kim Cương Tát Đỏa và đón nhận hai bộ đại kinh, sau đó ngài Long Thọtruyền pháp cho ngài Long Trí, ngài Long Trí truyền pháp cho ngài Thiện Vô Úy và Kim Cương Trí.

Đẩu đời Đường, hai ngài úy và Kim Cương sang Trung Hoa rộng truyền bí pháp Mật tông, ngài Vô úy truyền cho ngài Nhất Hạnh A Xà Lê. Ngài Nhất Hạnh đã chú sớ kinh Đại Nhật làm cho Mật tông được thịnh hành rực rỡ ở Trung Hoa.

Còn ngài Kim Cương Trí truyền cho ngài Bất Không Tam Tạng. Ngài Bất Không Tam Tạng truyền cho ngài Huệ Quả A Xà Lê. Ngài Huệ Quả truyền cho ngài Không Hải (tức Hoằng pháp Đại Sư) người Nhật Bản.

Ngài Không Hải trở về Nhật truyền bá Mật pháp và trở thành sơ tổ Mật tông Nhật Bản. Phái này gọi là Đông Mật.

Ngài Kim Cương Trí và Bất Không truyền Kim Cương giới.

Ngài Thiện Vô úy và Nhất Hạnh truyền thai tạng giới.

Dòng thứ hai được truyền vào Tây Tạng do ngài Liên Hoa Sinh Đại Sĩ đem Mật tông từ An Độ truyền vào Tây Tạng khoảng thế kỷ thứ 3 (có tài liệu nói khoảng thế kỷ thứ 5). Sau này hình thành lên hai dòng chính đó là Tạng Mật (Tây Tạng) và Đông Mật (Nhật Bản). (Còn tiếp)

Tài liệu có tham khảo:

  • “Lược sử các tông phái Phật giáo” của H.T. Nguyệt Trí Thích Viên Thành, NXB Văn hóa thông tin.
  • “Yếu pháp Mật tông” của soạn giả Thích Thông Đức.
  • “Mật tông khái luận” do NXB Đại Thừa văn hóa (Đài Loan)./.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.