Kinh sách

LỊCH SỬ MẬT GIÁO ẤN ĐỘ

TT. Thích Minh Trí

Bất kể một hệ tư tưởng nào đều có một quá trình diễn tiến, từ manh nha cho đến hoàn thiện và phát triển, các tông phái trong Phật giáo cũng không ngoại lệ. Mật tông là một trong mười tông phái của Phật giáo, thời cận hiện đại đến nay, ba tông phái được Tăng ni, Phật tử hành trì nhiều nhất đó là Mật tông, Thiền tông và Tịnh độ tông. Mật tông còn gọi là Mật giáo, bí mật Phật giáo, chân ngôn tông hay chân ngôn Mật giáo.

Ý nghĩa của Mật giáo theo Đại sư Hoằng Pháp trong (Bát nhã tâm kinh bí kiện) có nói: “ Chân ngôn bất từ nghì, quán tụng trừ vô minh, nhất tự hàm thiên lý, tức thân chứng pháp như ”, tức chân ngôn Đà la ni có một năng lực siêu việt, thực hành tụng đọc, quán tưởng có thể trừ được vô minh, mỗi chữ mỗi câu đều chứa đựng nghìn vạn ý nghĩa, người tu tập quán tưởng không chỉ mang lại lợi ích cho thế gian mà còn giúp hành giả giác ngộ ngay đời này.

Vấn đề đặt ra là! Mật giáo được hình hành từ khi nào? Tại Ấn Độ quá trình phát triển ra sao? Sự truyền bá và ảnh hưởng tới các quốc gia như thế nào?

Theo các nhà nghiên cứu, căn cứ vào bộ Lê  Câu Vệ Đà (Rig Veda) của Bà La Môn giáo thì những chú ngữ trong bộ sách này đã xuất hiện hơn một nghìn năm trước khi Đức Phật xuất thế, các chú ngữ này thuộc hệ văn học Vệ Đà. Thời kỳ đầu, những chú ngữ và tán ca chỉ dành cho riêng giai cấp Bà la môn, từ hệ văn học Veda đã hình thành ba hệ tư tưởng đó là: Lê câu (Rig), Sa ma (Sà ma) và Dạ nhu (Yajur), ba phái này cùng với phái A Thát bà Vệ Đà (Atharva-Veda) trở thành hệ tư tưởng triết học, lấy quan niệm (Thanh thường trụ luận) làm cơ sở để tổ chức lại thành phái Nhĩ Man Tát (Mimansaka), phái này được hình thành vào thời Đức Phật Thích Ca đang tại thế hoặc sau Đức Phật nhập Niết bàn không lâu. Từ khi hình thành phái này, việc tụng đọc chân ngôn không còn chỉ giới hạn cho giai cấp Bà la môn nữa, mà đã được phổ biến quần chúng hóa cho mọi tầng lớp nhân dân.

Trong Đại sử thi Maha bà La Đa (Mahà bhà ra ta) có thể hiện tên của một nghìn lẻ tám (1008) bài chú, đồng thời coi Thấp Bà (Civa) và Tỳ Nữu (visnu) làm thần bảo hộ và trở thành tín ngưỡng của Ấn Giáo cho tới ngày nay. Việc tụng niệm chân ngôn và thờ thần của tín ngưỡng này chủ yếu là cầu đảo bệnh, trừ tai họa, mong được phúc lộc. Chính vì các chú ngữ xuất hiện từ rất sớm trong văn học Veda như vậy, nên sau khi Đức Phật thành đạo độ sinh trong hàng đệ tự xuất gia cũng như tại gia của Đức Phật (có đủ cả 4 giai cấp trong xã hội) đương nhiên có cả những người theo tín ngưỡng Bà la môn, họ trước khi hiểu được giáo Pháp của Phật mà chứng ngộ, họ đã mang theo cả những chú ngữ vào trong sinh hoạt Tăng đoàn.

Vậy thì thời Đức Phật còn tại thế (thời kỳ Đức Phật giảng về tư tưởng cho Thanh văn thừa) đối với những người tụng niệm chân ngôn trong Tăng đoàn, Đức Phật đã nghiêm cấm việc này. Căn cứ vào những tài liệu được ghi lại trong kinh (Trung A Hàm), (Trường A Hàm) hay (Tứ phần luật), ban đầu Phật nghiêm cấm các đệ tử tụng đọc các chú thuật mật pháp, Ngài nói: “Người phạm việc này, tức phạm vào tội Ba dật đề (Pàyattika)”, hay trong kinh điển Pa Li, tiết 5 của (tiểu phẩm tiểu sự) cũng nói: “Lấy Mật pháp của thế tục mà cầu đó là cái học của loài súc sinh”. 

Lập trường và mục đích tối thượng của Đức Phật đó là Giải thoát và Giác ngộ, thì những việc tụng đọc các chú thuật để cầu đảo bệnh, trừ tai, trường thọ hay phúc lạc đều không được lưu hành trong Tăng đoàn.

Nhưng trên thực tế, bản tính của con người thường mong muốn có một năng lực thần bí vô hạn, suy nghĩ này dần dần lưu hành, tự nhiên hình thành những bước sơ khởi với chú thuật mật pháp. Mặt khác, Tăng đoàn ngày một phát triển mở rộng, những người vốn trước đây thường thực hành chú thuật Mật pháp Bà la môn cũng dần gia tăng về số lượng trong Tăng đoàn Phật giáo, việc cấm chỉ là vô cùng khó khăn. Đồng thời, trong quá trình hoằng pháp độ sinh cũng cần phải phương tiện để nhiếp hóa, nên đối với tín ngưỡng cũng cần phải có sự điều hòa để hướng đạo cho họ, đây cũng là điều tất yếu xảy ra. 

Như trong (Thập tụng luật – quyển 46) do Ngài La Thập dịch, có nói: “Những ác chú Mật pháp mà ảnh hưởng tới sự tu tập Phật đạo đương nhiên phải cấm chỉ, nhưng với các chú trị độc, trị đau răng có thể bảo hộ thân thể của người tu hành, khiến cho hành giả được an úy tự tại gọi là thiện chú, trì tụng những thiện chú này không ảnh hưởng Phật đạo đều có thể được dung nạp”.

Sau khi Đức Phật nhập niết bàn, việc tụng đọc chân ngôn càng thịnh hành. Trong những kinh điển Nguyên thủy Phật giáo đã từng thu nạp những bài bài tán ca hay minh chú của văn học Vệ Đà, hoặc mô phỏng những bài tán ca rồi thêm bớt điều chỉnh trở thành thứ đặc hữu của Phật giáo. Ví như (Ma Đăng Già kinh) do Ngô Chi Khiêm dịch từ chữ Phạn ra chứ Hán vào (Tây lịch 230)

Sau này, kinh điển của Phật giáo Nam truyền có nói tới việc bị rắn cắn thì niệm (minh chú) trong tiểu phẩm hay thiên thứ 5 tiểu sự, (Bản sinh kinh), (Tạp A Hàm) cũng nói tới. Minh chú là nói giản lược của tinh thần đại từ bi bác ái của Phật giáo (Sù tra), có nghĩa là: Nếu bạn gặp phải những loại mãnh thú ác độc nào hãy dùng lòng nhân từ mà đối phó chúng, chúng tuyệt đối không hại tới bạn”. Về sau cho rằng những đoạn kinh văn giản lược đó có một sức mạnh thần bì mà đã lấy những Mật chú để trì tụng. Như vậy, thời kỳ nguyên thủy Phật giáo đã xuất hiện rất nhiều chân ngôn mật ngữ. Do đó, sau khi Đức Phật nhập niết bàn khoảng 300 năm, trực tiếp hay gián tiếp như (Thuyết nhất thiết hữu bộ) thuộc về Thượng tọa bộ, sau phân thành (Độc tử bộ) hoặc (Pháp tạng bộ) thì ngoài ba tạng kinh, luật, luận ra còn tập hợp những chân ngôn mật chú thành (Minh chú tạng) . Trong đây tập hợp 30 bài kinh ngắn nói về Chư Thiên, quỷ thần trong pháp hội ủng hộ Phật Pháp khi Đức Phật thuyết giảng, những vị thần này đều xuất hiện trong tín ngưỡng dân gian thời bấy giờ. Nhân đây mà Đức Phật thuyết giảng về các vị thần minh ủng hộ Phật giáo như (Đại hội kinh – Mahàsa maya – Suttam) hoặc (A tha na chi kinh – À ta natiya suttam), ngoài ra còn có (Tam quy văn), (Tứ kinh), (Thập pháp kinh).v.v…đều được gọi là (Phòng hộ tạng). Hiện nay các kinh này rất thịnh hành trì tụng tại Srilanka, Mianma.

Chữ phòng hộ (Paritta) nghĩa là phòng vệ, ủng hộ, nghĩa của nó tương đương với Ba lợi Đặc La (Paritra) của tiếng Phạn, và Bì Lập Đặc (Pirit) của ngôn ngữ Srilanka cho rằng những bài kinh ngắn này và chân ngôn mật chú hoàn toàn đồng nhất, tin tưởng trì tụng sẽ thoát ly tai ách mà được hạnh phúc.

Theo Thánh điển của Nam truyền Phật giáo (Palitext) trong luật bộ, tiểu phẩm thứ 5 có nói tới việc bị rắn cắn gọi là Ba Lập Đa (Paritta), từ Ba Lập Đa còn được tìm thấy trong các kinh điển khác như câu chuyện vua Mi Lan Đà (Milanda) người Hy Lạp hỏi Na Già Tiên Na tức (Luận sư nổi tiếng Long Quân – Nàga – sera). 

Vua Mi Lan Đà hỏi: Đức Phật, một mặt Ngài nói về cái chết là không thể tránh khỏi, cho dù có ở trên không trung, dưới biển hay chui vào hang động cũng không thoát khỏi cái chết. Nhưng một mặt Ngài lại tuyên thuyết các kinh (Bảo kinh phòng hộ chú, uẩn phòng hộ chú, khổng tước phòng hộ chú, cao tràng phòng hộ chú, A ta na chi kinh phòng hộ chú, chỉ man phòng hộ chú,.v.v.) và Ngài cho rằng, do thần bí lực này mà đầy đủ các ý nguyện, vậy đây không phải là mâu thuẫn hay sao? 

Luận sư Long Quân đáp: Phòng hộ chú này hiệu lực của nó có lý do, vì hạn định tồn tại sinh mệnh của con người, hoặc có thể ngăn cản nghiệp chướng mà sử dụng, nên tuyệt đối không có mâu thuẫn. Vả lại nhờ lực lượng phòng hộ chú mà có thể ngăn cản được rắn độc cắn, người cầm gậy muốn đánh sẽ vứt gậy đi mà trở nên thân thiết, lại gặp voi dữ xông đến muốn tấn công, niệm minh chú sẽ khiến voi dữ dừng ngay lập tức, hay như sói lang hung hãn muốn xông đến cắn xé, nếu niệm minh chú có thể biến nó thành hiền lành thuần phục. 

Về niên đại xuất hiện câu chuyện này vào thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên. Vấn đề niên đại, các học giả đều thống nhất, với thời gian tương đối cổ đại nên tin tưởng rằng Phật đã thuyết những kinh phòng hộ chú này, đồng thời các học giả cũng cho rằng từ đây đã nói lên đầy đủ thần bí lực vĩ đại được phổ cập trong Phật giáo. 

ĐÁP ỨNG NHU CẦU TÍN NGƯỠNG

Tín ngưỡng dân gian Ấn Độ thuộc đa thần giáo, mọi người cho rằng cuộc sống và  bệnh tật của con người là có sự ảnh hưởng từ các vị thần linh quỷ thần, do đó, muốn được mạnh khỏe, bình an cần phải tụng đọc thần chú mật pháp. Vì vậy để ứng phó với nhu cầu xã hội mà đã xuất hiện không ít những thần chú mật pháp trong các kinh điển Phật giáo, như Bồ Đề Lưu Chi đời Nguyên Ngụy (508 – 535) dịch từ chữ Phạn sang chữ Hán có (Phật thuyết hộ chư đồng tử Đà la ni kinh), trong kinh nói tới tên 15 loại quỷ thần. Những quỷ thần này thường hay trêu trọc các trẻ nhỏ khiến trẻ hay quấy khóc đêm, miệng nhiều đờm dãi và các bệnh tật khó lớn, đây hoàn toàn gần giống như (Đại sử thi – Mahà bharata) quyển 3, phẩm Sâm Lâm, trong phẩm Sâm Lâm có nói tới câu chuyện liên quan tới quỷ nữ trêu trọc, nhiễu loạn trẻ nhỏ, có điều trong (Phật thuyết hộ chư đồng tử kinh) nội dung đã có gia giảm, thêm bớt.

Từ đây có thể nhận thấy, để đáp ứng với nhu cầu tín ngưỡng mà Phật giáo cũng đã có những điều chỉnh nhất định trong việc hoằng đạo. Như nhiều ngôi chùa ở Việt Nam, việc bán khoán các cháu nhỏ cho Đức Ông trong chùa thì hầu như đâu cũng có.

CHÂN NGÔN VÀ ĐÀ LA NI

Theo sự phát triển của Phật giáo, chân ngôn mật chú được ứng dụng trong các pháp quán Du Già mà sinh khởi Đà la ni (Dhà ra ni), nhưng nghĩa ban đầu của Đà La Ni được sử dụng đầu tiên trong kinh Bát Nhã, ngoài ra các kinh khác như (Vô lượng môn vị mật trì kinh) do Ngô Chi Khiêm dịch, hay (Hải Long vương kinh) do Trúc Pháp Hộ dịch thì thấy nghĩa Đà la ni là lấy nghĩa của văn tự ngữ cũ đặc thù làm tượng trưng mang ý nghĩa sâu sắc thuộc về tôn giáo, xem đây là phương pháp thống nhất tâm gọi là (tổng trì), về sau mọi người thường trì tụng chân ngôn mật chú, rồi việc tụng đọc chân ngôn trở thành pháp cách thống nhiếp tâm (tổng trì), khi trì tụng chân ngôn cũng được gọi là Đà la ni, vì thế sau này chân ngôn và Đà la ni không còn có sự phân biệt.

Trên thực tế, trong Phật giáo cường điệu khi trì tụng chân ngôn Đà la ni, tức nương vào trì tụng để thống nhất (tâm) rồi cúng dàng Chư tôn, việc nghi thức tụng niệm phải như thế nào ? Và cách cúng dàng làm sao ? Chính vì vậy các nghi quỹ thực hành dần dần xuất hiện và phát triển. Cho đến thế kỷ 5 – 6 Ấn Khế (Mudrà) và Man Đa La (Mandala) được thành lập. Đây chính là quá trình chuẩn bị cho việc thành lập chính thuần mật giáo.

TẠP BỘ MẬT GIÁO VÀ CHÍNH THUẦN MẬT GIÁO

Ngay từ Nguyên thủy Phật giáo, chân ngôn Mật pháp đã xuất hiện, nhưng thời gian này chỉ là những câu, đoạn mật chú ngắn mà không có hệ thống. Đồng thời ý nghĩa của tạp bộ mật giáo và Phật giáo là không có quan hệ trực tiếp lẫn nhau. Những chân ngôn mật chú chỉ là để ủng hộ cho người tu hành về việc tiêu trừ các chướng nạn, nên chân ngôn mật chú coi là vật phụ thuộc, nương vào Phật giáo mà tồn tại. Nhưng chỉ sau một thời gian ngắn đã có sự chuyển biến mà chân ngôn mật giáo trở thành pháp đặc hữu của Phật giáo, chân ngôn Đà la ni có thể làm hiển bày thực tướng của các pháp, ngoài chân ngôn mật giáo, không có một pháp nào có thể hiển bày hết ý nghĩa căn bản của Phật giáo. 

Duy chỉ có chân ngôn mật pháp mới là bí tăng của Như Lai, mới là chân tuỷ của Phật giáo. Từ đây cũng bắt đầu nhìn thấy tính độc lập của chính thuần mật pháp trong Phật giáo. Với tạp bộ mật giáo thì vẫn lấy Đức Thích Tôn làm trung tâm, ngược lại trọng điểm của chính thuần mật pháp là Đức Tỳ Lô Giá Na (maha vairocana)  tức Đại Nhật Như Lai. Đại Nhật Như Lai là giáo chủ thuyết về chính thuần chân ngôn mật pháp, nhân đây mà phát huy tính độc lập của nó.

Sau khi kinh Đại Nhật được hình thành, tiếp sau đó là (kinh Kim Cương đỉnh). kinh Đại Nhật phân chư Phật làm 3 bộ là: Phật bộ, Liên Hoa bộ, Kim Cương bộ. Đến khi (kinh Kim Cương Đỉnh) xuất hiện đã chia thành 5 bộ là: Phật bộ, Liên Hoa bộ, Kim Cương bộ, Bảo bộ và Yết Ma bộ. Do đó thời gian xuất hiện (kinh Kim Cương Đỉnh) muộn hơn (kinh Đại Nhật) vào khoảng thế kỷ thứ 6 hoặc 7. Vì theo tài liệu của Trung Quốc thì vào năm 720 đời nhà Đường ( Kim Cương Trí Tam Tạng) đã mang bộ kinh này sang Trung Hoa giới thiệu và phiên dịch rồi.

Căn cứ vào nội dung của 2 bộ kinh Đại Nhật và Kim Cương Đỉnh thì Kim Cương Đỉnh là bộ Thánh điển cơ bản hoàn toàn thuần chính nhất. Đồng thời, là một trong 18 bộ kinh điển thành lập bộ Đại kinh, từ đây các học giả đã nhận định, thời gian mật tông hoàn thiện và trở thành một tông độc lập là vào khoảng thế kỷ thứ 7.

SƠ TỔ MẬT TÔNG

Nói rằng mật tông được hình thành vào thế kỷ thứ 7, nhưng đương nhiên trước đó hàng trăm năm đã trải qua thời gian để hoàn thiện. Trong quá trình hình thành tổ chức để lập tông, vấn đề được đưa ra là cần có người đại diện để tập hợp lực lượng, vì yêu cầu đó mà Long Thọ Bồ Tát (Nàgàrjuna) được chọn lựa. Long Thọ xuất hiện ở vào khoảng từ thế kỷ thứ 2 đến thế kỷ thứ 3 và được mọi người tôn xưng như Phật. Tuy rằng Long Thọ không phải là nhân vật sáng lập ra Tạp bộ Mật giáo, cũng không phải là người hoàn thiện Chính Thuần mật giáo, nhưng với Tạp bộ mật giáo,  Ngài đưa ra cơ sở giáo nghĩa căn bản sau này, Chính Thuần mật giáo đã dựa vào tư tưởng của Ngài làm cơ sở phát triển và hoàn thiện hệ thống tư tưởng của Phật giáo nói chung, do đó việc lấy Long Thọ làm người Khai tổ tuyệt nhiên không ai phản đối.

TƯ TƯỞNG CỦA LONG THỌ

Thời kỳ của Long Thọ, tức khoảng thế kỷ thứ 2, lúc này các phái trong Phật giáo đang diễn ra tình trạng phân lập, có phần hỗn độn và phức tạp. Long Thọ với tinh thần nhiệt huyết và tinh tiến muốn chỉnh đốn Phật giáo giới đương thời, trong suy nghĩ của Ngài từng xuất hiện quan điểm sau: “Kinh Phật tuy là vi diệu, nhưng chỉ lấy lý mà hiểu thôi thì không thể đạt được tới tận cùng của sự vi diệu đó, nên cần phải trình bày diễn giải nó ra thì người học sau mới có thể ngộ được, như vậy thì cũng không đi ngược lại chân lý, cũng chẳng làm mất đi cái sự (thực hành), đây có gì là lỗi chứ”. 

Do lập trường này mà Long Thọ đã cổ suý tư tưởng Trung Quán, từ tư tưởng này tự nhiên phân làm tiêu cực và tích cực (hai phương diện phủ định và khẳng định). Đại diện cho tư tưởng phủ định (tiêu cực) có: Trung Luận, Bách Luận và Thập nhị môn Luận. Đại diện cho phương diện khẳng định (tích cực) có: Trí Độ Luận và Luận Thập Trụ Tỳ bà Sa.

MỐI QUAN HỆ GIỮA LONG THỌ VÀ MẬT GIÁO

Long Thọ muốn phá bỏ mọi căn bệnh cố chấp về tất cả các sự vật trong thế giới hữu hạn mà đưa ra thuyết (bát bất), tức (không, hữu, sinh, diệt, trường, đoạn, nhất, dị) ở đây Phá trừ và phủ định không phải là mục đích, mà là tẩy rửa tất cả những bụi trần (kiến chấp) để xây dựng một Phật quốc thanh tịnh, sau những phủ định rồi nhìn lại thấy tất cả đều mới mẻ vô cấu nhiễm, nên nói: “Pháp thân Phật thường phóng ánh sáng quang minh, thuờng tại thuyết pháp, nhưng vì tội lỗi mà chẳng thấy chẳng nghe được, giống như mặt trời xuất hiện mà kẻ mù không thấy, tiếng sấm rền vang mà kẻ điếc chẳng thể nghe vậy”.

Ngài Long Thọ nhận định thực tại của Pháp thân Phật, Pháp thân này giáo hoá chủng chủng chúng sinh, thì hiện chủng chủng Phật thân, thuyết chủng chủng pháp, triển khai chủng chủng Phật ý. Đồng thời, Long Thọ khuyên mọi người nên học thêm những sách vở của thế gian như Kỹ thuật, Phương thuật.v.v để giáo hoá thế gian. Ngài nói: “Nếu không biết Pháp thế gian thì Không thể giáo hoá cho ai dù chỉ một người”, khích lệ mọi người tạo tượng, xây tháp cúng dàng mà quán hạnh của Phật. Đặc biệt Long Thọ đề xướng (Kinh) do từ những nguyên lý của văn tự hữu hạn như (chữ A, chữ La, chữ Pa.v.v) mà có thể đi vào vô hạn giới của (tự môn Đàlani). Vậy là bản thân mỗi câu mỗi chữ của chân ngôn Đà la ni vốn chỉ mang nhiệm vụ bảo hộ trừ tai ương được gửi gắm trong các kinh điển, nay đã trở thành phương tiện để thống nhất (tâm) và hợp nhất với diệu thuật vô hạn giới, đây chính là cơ sở giáo nghĩa của mật giáo. Do đó chính thuần mật giáo có thể tự do thu lạp tín ngưỡng thông tục của thế gian ,tịnh hóa phong tục tín ngưỡng dân gian. Sau này hình thành tư tưởng kinh Đại Nhật (tam vô tận trang nghiêm tạng) đều từ sự phân hoá ảnh hưởng tư tưởng của Long Thọ.

NƠI XUẤT PHÁT VÀ HƯNG THỊNH CỦA MẬT GIÁO

    Theo các nhà nghiên cứu thì nơi phát xuất mang tính độc lập của mật giáo là tại vùng Trung Ấn Độ, nhưng để đạt tới hưng thịnh thì lại ở vùng Tây Ấn Độ như (Tây Vực cầu Pháp Cao Tăng truyện) thuật. Khi Nghĩa Tịnh đến Ấn Độ cầu pháp cũng phái đoàn 56 người thì trong đó có 4 vị là: Huyền Chiếu, Sư Tiên, Đạo Lâm và Đàm Nhuận là những người tín phụng mật giáo đều có chí hướng đi về miền Tây Ấn. Đặc biệt có Đàm Nhuận là người Giao chỉ, vì muốn tu học huyền lý của Mật giáo đã đi thuyền từ Giao chỉ đến Ấn Độ, nhưng không may trên đường đi lâm bênh mà mất. 

Vì thế có thể nhận ra vùng Tây Ấn chính là Trung tâm của Chính thuần Mật giáo thời bấy giờ. Cho đến nay, còn nhiều di tích Mật giáo ở các vùng Khang Hắc Lý, Na Thi Khắc, Ái Lâu La, A Giang Đạt, những vùng này trước đây thuộc tiểu vương quốc La Trà ở Tây Ấn Độ. Thời cổ đại, La Trà là vương quốc rất phát triển về kinh tế, văn hoá, với đa chủng sắc tộc, tôn giáo như Bái Hoả giáo, Si na giáo, Bà la môn giáo, Đại thừa, Tiểu thừa Phật giáo cũng rất phát triển vào thời kỳ này.

HÌNH THÀNH THỜI LUÂN GIÁO

Sau khi Kim Cương thừa đại chúng hoá, thế hệ hoá tổ chức, đó là Thời luân giáo xuất hiện. Thời luân (Kalacakra), sở hạn chế của ba thời quá khứ, hiện tại, vị lai là (mê giới), nay xuất hiện tư tưởng Bản Sơ Phật (Adi-buddha) vốn siêu việt khỏi thời gian và không gian đến để giải thoát mê giới này, giáo pháp này gọi là Thời luân giáo. Bản sơ Phật vốn là căn bản của tất cả vũ trụ, vả lại là (thể) nguyên sơ của sinh mệnh, đây là căn nguyên của tất cả, là chúa tể của tất cả. Bản sơ Phật còn gọi là (tự nhiên sinh – svayambhu) hoặc (Trì kim cương – vajradhara) hoặc (kim cương Tát Đoả – vajrasattva), cũng có lúc nói là (Ngã tính của Ngũ Trí – Pancajnanatmika). Do Ngũ Trí này cùng với (Thiều na – dhyana) hợp nhất, tương ưng mà phát hiện Tỳ Lô Giá Na, A xúc bệ, Bảo Sinh, Vô Lượng Thọ và Bất Không Thành Tựu ngũ Phật do đó , ngũ Phật này cũng còn gọi là (Ngũ Thiền Na Phật). Từ Ngũ Thiền Na Phật làm căn bản mà thị hiện chủng chủng biến hoá thân, không chỉ là thị hiện khuôn diện Từ dung, vi tiếu của Phật và Bồ Tát mà để điều phục ( khởi kiến) các oán định cũng có thể biến hiện làm (khá lợi – Kali), (Bạch La Bà – Bhairava), (hắclâuca – Heruka) với những hình tướng giận dữ phẫn nộ. (Nguyệt Hiền) con của vua nước (Hương Bà La) Ngài từng đích thân nghe Phật thuyết pháp tại đại bảo tháp ở Đà Na Yết Trách Gìa (Dhanya – kataka), về sau có sở đắc mà biên tập thành (căn bản nghi quỷ Thời Luân – Kalacakra – mulatantra), rồi lấy (căn bản nghi quỹ) này mà tổ chức ra (Thời luân giáo).

Từ những dữ liệu trên cho chúng ta thấy mấy điểm sau:

  • Minh chú hay chân ngôn là một thứ di sản văn hoá phi vật thể đã xuất hiện từ rất sớm.
  • Lý do Đức Phật cấm các đệ tử tụng đọc các chú thuật mật pháp vì thứ nhất, giai đoạn này các chú thuật chủ yếu chỉ để cầu đảo trừ tai hay cầu phúc lộc, việc này không phải là mục đích của người tu hành đó là giải thoát và giác ngộ (giai đoạn tự giác). Thứ hai là thời kỳ Đức Phật chủ yếu thuyết giảng cho hàng thanh văn thừa.
  • Thời kỳ suy vi của Đại thừa là một trong các nguyên nhân gián tiếp khiến sản sinh tư tưởng chính thuần mật giáo. Do đó, Mật giáo là điểm tiếp nối của tư tưởng Đại thừa và cũng là thời kỳ hoàn thiện hệ thống tư tưởng triết học Phật giáo (nó bao hàm đầy đủ cả tinh thần tục đế và chân đế, hay cả nhân sinh quan và vũ trụ quan của Phật giáo).
  • Đặc biệt, Mật giáo đã giải bài toán về pháp thân Phật hiển bày đầy đủ thể, tướng, dụng của Pháp thân.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.