SỨC MẠNH VÀ GIÁ TRỊ CỦA LỜI XIN LỖI
Trong xã hội, cách ứng xử giữa người với người, giữa người với vạn vật thiên nhiên là hết sức quan trọng trong các mối quan hệ. Nhiều khi chỉ 1 lời xin lỗi hay cám ơn chân thành cũng có thể chuyển thù thành bạn, nhưng nếu không có nó thì đôi lúc bạn thành thù. Văn hóa được coi là di sản, là bệ đỡ tinh thần của một dân tộc, trong đó văn hóa ứng xử là cốt lõi, là sợi dây kết nối giữa con người với con người, nó mang lại một thông điệp hòa giải hòa hợp, cảm thông và thấu hiểu, nó có thể phá vỡ mọi rào cản để đưa con người đến gần nhau hơn, yêu thương nhau hơn, nó xóa tan mọi ganh ghét, đố kỵ và hiềm thù, có những hoàn cảnh, nó như một bức tường thành ngăn chặn xung đột và chiến tranh. Với xã hội, câu “xin lỗi” và “cảm ơn” đóng một vai trò hết sức quan trọng như vậy. Còn với Phật giáo, đó chính là sự “sám hối”, “tri ân và báo ân”, đây cũng chính là một trong những hạnh nhẫn, là phương pháp trở về bản thân thanh tịnh hiệu quả nhất.
KHUÔN MẶT CỦA BẢN NGÃ (CÁI TÔI)
Trong cuộc sống thường nhật, mỗi khi có những giao dịch thì việc hiểu về đối tác là hết sức quan trọng cho thành công hay thất bại, cũng như trong tứ Thánh đế, muốn diệt khổ trước tiên phải hiểu chân tướng của đau khổ, nguyên nhân của khổ từ đâu,.v.v…tới đến Đức Phật chỉ ra phương pháp diệt khổ đó là Đạo đế. Cũng vậy, trong xã hội mọi mối quan hệ, việc ứng xử thế nào nó cũng phụ thuộc rất nhiều về việc nhận thức cái bản ngã (cái tôi) như thế nào!
Bản ngã là được gọi theo từ chuyên môn, phổ thông ta thường thấy mọi người xưng là “tôi”. Thực chất bản ngã hay cái tôi được hình thành từ “thập kiết sử” hay 10 thứ vật liệu làm lên cái tôi (bản ngã), đó là: tham, sân, si, mạn, nghi, thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ và giới cấm thủ. Trong đó tham, sân, si được gọi là 3 nghiệp căn bản. Vì vô minh mà lầm tưởng thân này là thật có, thật tồn tại của mình, từ đây sinh khởi tâm chiều chuộng, sửa sang chau chuốt, bảo vệ cực đoan về nó, như tham đắm sắc dục, ăn uống, ngủ nghỉ, rồi tới mặc cho nó chiếc áo quyền lực, danh vọng, nhưng một khi bị động chạm tới các danh lợi của cái tôi này thì lập tức khởi tâm sân hận, thù oán, ganh ghét và đố kỵ Chính vì thế cái “tôi” nó sẽ có một tác động không nhỏ tới cách thể hiện ứng xử với mọi người và xã hội. Đồng thời khi lục căn tiếp xúc với lục trần sinh ra lục thức, đây chính là cảm thọ, đầu mối của ưu, bi, khổ, não hay hỷ lạc, bình an. Ứng xử hay giao tiếp cũng là một trong những quá trình này. Người mà với cái tôi quá lớn thường không nhận ra cái sai (kiến thủ), vì thế họ sẽ không mở lòng mà cố chấp, từ đó cách ứng xử sẽ là kiêu căng, ngã mạn hay thô lỗ, cục cằn.
Những năm gần đây, không ít người bắt đầu lo lắng tới vấn đề (đạo đức đang bị xuống cấp), đặc biệt cách ứng xử trong xã hội đang dần mất đi thuần phong mỹ tục, những câu xin lỗi hay cám ơn dần thưa thớt trong mọi hoàn cảnh, bởi cái tôi nó đang hiện ở mọi nơi, mọi chốn.
XIN LỖI VÀ SÁM HỐI THEO LÝ GIẢI CỦA PHẬT GIÁO
Sám: Nói cho đủ là Sám – ma (Ksama)
Trong “Giới đàn tăng” có định nghĩa hai từ sám hối như sau:
- Sám nghĩa là ăn năn, tự thú tội ra, chừa bỏ các lỗi đã làm, chẳng những tội lỗi trong một đời, mà cho đến các tội từ nhiều kiếp trước cần phải sám.
- Hối là hối hận, biết rõ lỗi mà chừa bỏ, đổi lại cho tử lên tốt, không cho tội lỗi phát sinh nữa.
Trong “từ điển Phật học Huệ Quang” còn nói sám nghĩa là “nhẫn” tức mong người khác tha tội. Hối nghĩa là truy hối, hối quá, tức hối hận tội ở quá khứ. Tỏ bày lỗi lầm của mình trước Phật, Bồ Tát, sư trưởng hay đại chúng với mục đích mong được diệt tội gọi là sám hối.
Theo căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ Tỳ Nại Da do ngài Nghĩa Tịnh dịch thì cho rằng sám và hối có ý nghĩa khác nhau. Sám là mong được tha thứ (tội nhẹ), còn hối tiếng Phạn là (A – bát – để – bát – thích – để – đề – xá – na) nghĩa là tự trình bày tội trạng (tội nghiêm trọng) tức thuyết tội.
Trong “từ điển Phật học Huệ Quang” cũng giới thiệu có hai loại sám hối, ba loại sám hối, năm loại sách sám hối và lục căn sám hối được ghi chép trong các bộ kinh luận như:
- Hai loại sám hối là theo “Tứ Phần Luật Yết – Ma Sớ” đó là chế giáo sám và hóa giáo sám.
- Ba loại sám hối xuất xứ từ “Kim Quang Minh kinh văn cú kí 3) đó là: tác Pháp sám hối, Thủ tướng sám hối (quán tưởng sám hối), vô minh sám hối.
- Năm loại sám hối, theo “Kinh Quán Phổ Hiền Bồ Tát” đây là 5 pháp sám cho hàng cư sĩ tại gia với 5 việc sau:
- Không phỉ báng Tam bảo, cho đến tu lục niệm
- Hiếu dưỡng cha mẹ, cung kính sư trưởng
- Dùng chính pháp trị nước, làm cho tâm ý mọi người ngay thẳng
- Vào 6 ngày trai không sát sinh
- Tin nhân quả, tinh nhất thật đạo, tin Phật bất diệt
Lục căn sám hối như trong “Pháp Hoa Sám Pháp”, sám hối tội chướng của 6 căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Tức thực hành theo “Pháp Hoa tam muốị sám pháp” của ngài Trí Khải.
Với Phật giáo, người tu hành phải luôn luôn phản tỉnh, thường xuyên kiểm soát thân, khẩu, ý trong mọi uy nghi đi, đứng, nằm, ngồi, thực hành sám hối ngày đêm sáu thời, sám hối chính là phương tiện thiện xảo để quay về với bản tâm thanh tịnh. Tác dụng của việc sám hối là bất khả tư nghì, như trong giới kinh cũng đã từng nói: “người chí thành sám hối có thể diệt hằng sa thứ tội….”, năng lực của việc chí thành sám hối không chỉ mang lại lợi ích cho hành giả mà còn cứu độ cho tha nhân như kinh “Lương Hoàng Sám”,
Lương Võ Đế vì Hoàng Hậu mà thỉnh soạn bộ kinh này giúp cho Hoàng Hậu thoát khỏi kiếp mãng xà chỉ trong thời gian 49 ngày. Đặc biệt như ở Việt Nam, tấm gương Phật Hoàng Trần Nhân Tông cũng thực hành pháp sám lục căn mà giác ngộ.
Với Phật giáo, sức mạnh của việc sám hối là như vậy. Còn với xã hội, việc chân thành bày tỏ một lời xin lỗi, năng lực tuy không như lời sám hối của bậc tu hành nhưng cũng mang lại một lợi ích không hề nhỏ. Bởi như trên đã trình bày, thổ lộ một lời xin lỗi hay cám ơn là một cách ứng xử vô cùng cơ bản giữa con người với con người, là nền tảng cốt lõi của văn hóa. Một xã hội được coi là hạnh phúc, không nhất thiết phải dựa vào thu nhập kinh tế, mà còn phải dựa vào chỉ số hạnh phúc của người dân. Sự hài lòng của người dân chính là nói lên sự hài hòa của xã hội đó, trong đó văn hóa ứng xử đúng chuẩn mực, con người biết tôn trọng lẫn nhau, có sai thì thành thật xin lỗi, biết tương trợ giúp đỡ lẫn nhau trong mọi hoàn cảnh. Họ cám ơn từ ngọn cỏ, nhành cây đã vô tư mang lại không khí trong lành cho cuộc sống, đó là cách ứng xử có văn hóa với thiên nhiên.
XIN LỖI LÀ LỜI CỦA NGƯỜI CÓ VĂN HÓA
Việc trước tiên chúng ta phải nhận ra cái sai, cái lỗi của mình, cái lỗi đó cho dù lớn hay bé, bình thường hay nghiêm trọng, dù là vô tình hay cố ý, là trực tiếp hay gián tiếp gây tổn thương cho người khác, chúng ta phải nhận ra được nó. Chẳng thế mà một học giả phương Tây đã từng phát biểu “Không sợ người làm sai, chỉ sợ người không nhận ra cái sai”, vẫn biết rằng “nhân vô thập toàn” nhưng với đại đa số người vì “kiến thủ” nên nhiều khi không nhận ra cái sai của mình, thêm vào đó cái bản ngã (tôi) trỗi dậy cho rằng mình là lãnh đạo, là thủ trưởng, là sếp hay là bề trên, là cha mẹ, là thày, là ông chủ, bà chủ nên không thể sai. Do vậy, từ chỗ không nhận ra cái sai nên cái sai đó cứ thế mà trượt dài, như trong giới kinh nói “Giọt nước tuy nhỏ nhưng lâu dần sẽ đầy chum vại to”, lỗi lầm cũng vậy, lỗi nhỏ mà không nhận ra mà trừ bỏ thì sẽ có ngày phạm lỗi lớn. Ngay ở Việt Nam, một tấm gương lớn là Chủ Tịch Hồ Chí Minh, thời kỳ cải cách ruộng đất, nhiều địa phương đã làm quá không đúng với chủ trương của Đảng, Chủ tịch là cương vị cao nhất của đất nước đã khóc và nhận lỗi trước toàn dân.
Người làm sai, phạm phải lỗi lầm mà nhìn thấy được cái sai đó, đây thuộc hạng người có trí (phân biệt trí). Người làm sai, nhận ra cái sai mà dám nhận trách nhiệm, dám đối mặt với lỗi lầm là người có dũng khí, lỗi đó dám nhận trách nhiệm trước quần chúng nhân dân, người đó đã đạt được tâm nhẫn nhục, đủ bi – trí – dũng, đó là hàng Thánh quả.
Ngược lại, làm sai mà không nhận ra cái sai đó là vô minh che lấp thuộc người ngu, biết sai mà không dám nhận đó là kẻ hèn, tiểu nhân. Lỗi lầm, sai phạm mà che đậy, giấu giếm hoặc đổ thừa, đây thuộc hạng người bất nhân.
Người làm sai, dám nhận cái sai đó với tha nhân, với xã hội, người đó không những không bị ghét bỏ, coi thường mà người đấy còn được yêu thương hơn, kính nể hơn vì người đó dám nhìn thẳng và đối diện với chính mình, chiến thắng chính mình là người vĩ đại nhất trong những điều vĩ đại.
XIN LỖI – SÁM HỐI VỚI TÀM QUÍ
Xin lỗi hay sám hối là cách bày tỏ lỗi lầm của mình đã gây ra cho một người nào đó hoặc xã hội. Khi thốt ra lời xin lỗi hay sám hối không phải là lời nói cho xong chuyện, hoặc nói cho vừa lòng đối phương, mà một lời xin lỗi hay sám hối phải được xuất phát tự đáy lòng mình, nó phải chí thiết chí thành, phải thấy ăn năn, hối hận, hổ thẹn về việc mình đã gây ra, hổ thẹn với đối phương hay xã hội, như vậy mới có năng lượng mãnh liệt để chuyển hóa cái sai, lỗi lầm trở lên hoàn thiện. Nói một cách khác, khi thổ lộ ra một lời xin lỗi hay sám hối phải bằng tâm có tàm – quí. Tàm – quí trong “Từ Điển học Huệ Quang” căn cứ vào các bộ kinh luận giải thích như sau:
Tàm (Hri), quí (Apatràpya). Tàm là tâm tự hổ thẹn bởi các tội ác do mình gây ra, quí là tâm hổ thẹn về tội lỗi của mình khi đối diện với người khác.
Tâm biết hổ thẹn bởi lỗi đã gây tạo là một trong các đại thiện pháp của Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ (là một trong các pháp thiện của Pháp Trường Tông) hai trong Thất Thánh tài gồm : Tín tâm, trì giới, đa văn, tàm, quí, bố thí và trí tuệ, nghĩa là giữ được, làm được bảy thứ trên là dự hàng Thánh quả.
Như trong “Kinh hai pháp thanh tịnh” số 1243 (Đại cương kinh Tạp A Hàm), Đức Phật thuyết như sau : “Tôi nghe như vầy, một thời Đức Phật trú tại nước Xá Vệ, rừng cây Thái tử Kỳ Đà, trong vườn Cấp Cô Độc.
Bấy giờ Thế Tôn bảo các ngài Tỳ Kheo : Có hai pháp thanh tịnh, có thể bảo hộ cho thế gian. Những gì là hai ? Đó là tự xấu hổ và thẹn với mọi người (Tàm và Quí). Giả sử thế gian không có hai pháp thanh tịnh này thì thế gian cũng không biết có cha mẹ, anh em, chị em, thân thuộc, sư trưởng, tôn ti trật tự, điên đảo hỗn loạn như súc sinh. Nhờ có hai pháp thanh tịnh tự xấu hổ và thẹn với người (Tàm – Quí) nên thế gian mới biết có cha mẹ, anh em, chị em, thân thuộc, sư trưởng, tôn ti trật tự, không hỗn loạn như súc sinh….”
Đức Phật đã dạy, mọi mối quan hệ trên dưới, ngôi thứ được phân biệt chính là cách ứng xử. Con người có lòng tự trọng, có liêm sỉ, biết ơn và báo ơn, biết tự xấu hổ và thẹn với mọi người khi mình có lỗi, đây chính là cái cao quý của con người, và cũng chỉ có con người mới có đức tính này có thể tu tỉnh, sửa chữa, làm lành, lánh dữ để thăng hoa về trí tuệ.
Biết nói lời xin lỗi, cám hơn hay sám hối hoặc tri ân – báo ân, đây chính là đặc thù và đặc ân của con người, chúng ta ai cũng có quyền và trách nhiệm thực hiện đặc ân này. Có vậy, mới có thể xây dựng một cộng đồng, một xã hội bình an, hạnh phúc. Lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau, đây chính là cách ứng xử có văn hóa, văn minh.